Hôm nay, ngày 24 / 04 / 2018
Câu chuyện nghiệp vụ
Vay tiền nhưng không trả, có thể bị xử lý hình sự PDF. In Email
Thứ bảy, 06 Tháng 1 2018 10:42

 

Đối tượng Đàm Xuân Quyết bị TAND TP. Kon Tum tuyên phạt 15 tháng tù giam về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản


Từ trước đến nay, “vay tiền” là một hoạt động rất thường xuyên trong cuộc sống, khi con người có nhu cầu đầu tư sản xuất, kinh doanh hoặc phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày. Pháp luật về dân sự xác định hoạt động “vay tiền” là quyền tự do của các chủ thể vay và cho vay. Tuy nhiên, trong thực tế, hoạt động cho vay tài sản thường mang lại nhiều rủi ro pháp lý, thậm chí nhiều người đành phải mất trắng khi tin tưởng cho bên vay mượn tài sản mà không tuân thủ các quy định chung của pháp luật.

Thời gian vừa qua, rất nhiều vụ việc được người dân trình báo đến cơ quan Công an có liên quan đến hoạt động vay mượn tài sản. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, mà mỗi vụ việc có các hình thức xử lý khác nhau. Theo quy định của pháp luật hiện hành, hành vi vay mượn tài sản của người khác mà không trả có thể bị coi là phạm tội hoặc có thể chỉ là quan hệ dân sự. Thực tế, khi các cơ quan chức năng xử lý các quan hệ này thường có nhiều luồng ý kiến khác nhau, gây nhiều tranh cãi về việc xác định đâu là quan hệ pháp luật dân sự, đâu là hành vi phạm tội.

Vậy, khi nào một hành vi “vay mượn mà không trả” được xác định là quan hệ dân sự?

Theo quy định tại Điều 463, Bộ luật dân sự 2015, quy định: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”.

Nếu giao kết hợp đồng giữa hai bên là hợp pháp, thì theo quy định tại Điều 465, Bộ luật dân sự 2015, nghĩa vụ trả nợ của bên vay: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau: Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này; Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

Căn cứ theo Điều 351, Bộ luật dân sư 2015 về trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ: “Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền. Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ. Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền”.

Như vậy, trong trường hợp bên vay không vi phạm pháp luật về hình sự thì bên cho vay có thể yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục dân sự; trong trường hợp nếu bên vay không có bất kỳ một tài sản nào để thanh toán khoản nợ vay, thì bên cho vay sẽ phải hoàn toàn chịu rủi ro về mặt pháp lý.

Trường hợp bên vay có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản, có thể bị xử lý về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự 2015.

Nếu bên đi vay chỉ có hành vi gian dối mà không có ý định chiếm đoạt, tức là có ý thức vay rồi sẽ trả nhưng do làm ăn thua lỗ, gặp hoàn cảnh khó khăn… nên không trả được thì không phải là tội phạm. Thậm chí nếu bên đi vay tuy lúc đầu có ý định chiếm đoạt nhưng sau khi thực hiện hành vi gian dối đã từ bỏ ý định chiếm đoạt thì cũng được coi là không phạm tội. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy việc xác định hành vi gian dối không khó nhưng việc xác định hành vi chiếm đoạt trong nhiều trường hợp không dễ. Do đó, khi xác định người vay tài sản có chiếm đoạt hay không cần phải căn cứ vào các tình tiết cụ thể của từng vụ việc, mối quan hệ giữa người vay với người cho vay; mục đích, động cơ của người vay về việc sử dụng số tiền vay như thế nào...

Nếu người có hành vi gian dối sau khi vay tài sản đã dùng tài sản đó đầu tư vào các lĩnh vực khác không đúng với thỏa thuận với người cho vay (kể cả kinh doanh hợp pháp và không hợp pháp) dẫn đến mất khả năng thanh toán nợ thì cũng không coi là phạm tội.

Nếu người có hành vi gian dối sau khi vay được tiền dùng số tiền đó kinh doanh hợp pháp nhưng do bị thua lỗ, mất khả năng thanh toán nợ và nếu bỏ trốn có thể bị xử lý về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự 2015.

Nếu người có hành vi gian dối sau khi vay được tiền đã sử dụng tiền đó vào mục đích phạm tội như buôn lậu, đánh bạc, đưa hối lộ... dẫn đến mất khả năng trả nợ thì coi là hành vi chiếm đoạt, người này có thể bị xử lý về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự 2015.

Trường hợp bên vay tuy lúc vay không có hành vi gian dối, nhưng sau đó dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản, có thể bị xử lý về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự 2015.

Nếu người vay mượn tài sản, tuy lúc đầu không có hành vi gian dối, nhưng sau đó dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả; hoặc vay mượn tài sản đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản, thì người này có thể bị xử lý về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự 2015./.


Duy Hòa

Số lượt người xem: 2847

+/-
Viết nhận xét
Tên của bạn:
Email:
 
Website:
Tiêu đề:
 
Nhập mã xác nhận
+/- Nhận xét
Nhận xét mới Tìm kiếm

Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 

banner cuocvandong

Bạn đọc cần biết

¤ Trực ban CA tỉnh: (069) 4186.112 - (0260) 3915.620

¤ Trực ban hình sự: (069) 4181.232 - (0260) 3864.388

¤ HT tố giác tội phạm: kontum@canhsat.vn 

¤ BBT: banbientap.congankt@gmail.com 

THÔNG BÁO QUAN TRỌNG

Chỉ thị số 09/CT-TTg ngày 04/4/2018 của Thủ tướng Chính phủ về các nhiệm vụ, giải pháp khắc phục tình trạng các lô hàng thủy sản Việt Nam bị nước ngoài cảnh báo, trả về
Chỉ thị số 09/CT-TTg ngày 04/4/2018 của Thủ tướng Chính phủ về các nhiệm vụ, giải pháp khắc phục tình trạng các lô hàng thủy sản Việt Nam bị nước ngoài cảnh báo, trả về Để xử lý dứt điểm vấn đề các lô hàng thủy sản bị cảnh báo các chỉ tiêu an toàn thực phẩm đặc biệt là tồn dư hóa chất, kháng sinh vượt mức quy định tại các thị trường nhập khẩu. Ngày 04/4/2018 Thủ tướng Chính phủ đã...

http://www.mps.gov.vn/web/guest/vanbanphapquy

Thống kê bài viết

1 Phòng Công Tác Chính Trị 21 bài đăng
2 Phòng CS PCCC và cứu nạn cứu hộ 10 bài đăng
3 Phòng Tham Mưu 8 bài đăng
4 Công an Đăk Tô 7 bài đăng
5 Công an Sa Thầy 6 bài đăng
... ... ...
35 Phòng hồ sơ 0 bài đăng
36 Phòng kỹ thuật nghiệp vụ II 0 bài đăng
37 Phòng tổ chức cán bộ 0 bài đăng
38 Thanh Tra Công an tỉnh 0 bài đăng
39 Trại tạm giam 0 bài đăng

Video Clips

Lượt truy cập
25955995
  • Hôm nay17120
  • Tuần này61824
  • Tháng này612325
  • Tổng cộng25955995
Đang trực tuyến : 810