Chế độ hỗ trợ và một số chế độ đãi ngộ đối với người Việt Nam có công đang đỊnh cư ở nước ngoài

201
che do chinh sach.jpg

Ngày 20/7/2018, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 102 quy định chế độ hỗ trợ và một số chế độ đãi ngộ khác đối với người Việt Nam có công với cách mạng, người tham gia kháng chiến, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế đang định cư ở nước ngoài, có hiệu lực thi hành từ 5/9/2018.

che do chinh sach.jpg

Ảnh minh họa

Theo Nghị định của Chính phủ, Công an nhân dân là một trong những đối tượng áp dụng được quy định tại điểm b Khoản 2 và điểm a, b Khoản 3 Điều 2, cụ thể như sau: Người tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ đang định cư ở nước ngoài, gồm: Quân nhân, Công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu hưởng lương như quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhập ngũ, tuyển dụng từ ngày 30/4/1975 trở về trước đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc trước ngày 1/4/2000 (bao gồm cả đối tượng đi học tập, lao động hợp tác quốc tế đang định cư ở nước ngoài); Người tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế đang định cư ở nước ngoài, gồm:

– Quân nhân, Công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, nhập ngũ, tuyển dụng vào Quân đội, Công an, cơ yếu sau ngày 30/4/1975, trực tiếp chiến đấu, phục vụ chiến đấu ở biên giới phía Bắc trong khoảng thời gian từ tháng 02 năm 1979 đến ngày 31/12/1988, biên giới Tây Nam từ tháng 5 năm 1975 đến ngày 7/1/1979, truy quét Fulro từ tháng 5 năm 1975 đến tháng 12 năm 1992, thuộc địa bàn các huyện biên giới, các tỉnh Tây Nguyên và các huyện tiếp giáp huyện biên giới có xảy ra chiến sự (bao gồm cả các huyện đảo biên giới và khu vực Hoàng Sa, Trường Sa, DK 1); hoặc tham gia làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia từ tháng 01 năm 1979 đến ngày 31/8/1989, hoặc giúp bạn Lào từ tháng 5 năm 1975 đến ngày 31/12/1988, đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc trước ngày 1/4/2000 hoặc chuyển ngành sau đó thôi việc trước ngày 1/1/1995 (bao gồm cả đối tượng đi học tập, lao động hợp tác quốc tế đang định cư ở nước ngoài);

– Công nhân, viên chức quốc phòng, công nhân, viên chức công an, công nhân viên chức nhà nước, chuyên gia các ngành; cán bộ xã, phường, thị trấn; dân quân tự vệ, công an xã do chính quyền cấp xã tổ chức và quản lý; thanh niên xung phong tập trung sau ngày 30/4/1975, thôi việc trước ngày 1/1/1995, có thời gian trực tiếp tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu ở biên giới phía Bắc, Tây Nam, truy quét Fulro hoặc làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào, Campuchia trong khoảng thời gian và địa bàn như đối với đối tượng quy định tại điểm a khoản này.

Nghị định cũng quy định về chế độ hỗ trợ như sau: Đối tượng quy định tại Khoản 2, 3 và 4 Điều 2 Nghị định này được hưởng chế độ hỗ trợ, mức hưởng được tính theo số năm thực tế tham gia kháng chiến, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế, dân công hỏa tuyến (gọi chung là thời gian công tác). Cụ thể như sau: Từ đủ 2 năm công tác trở xuống, mức hỗ trợ bằng 4 triệu đồng; Trên 2 năm, thì từ năm thứ 3 trở đi mỗi năm được cộng thêm 1.500.000 đồng; Trường hợp đã từ trần trước ngày 5/9/2018 thì thân nhân đối tượng quy định tại Khoản 5 Điều 2 Nghị định này được hỗ trợ một lần bằng 6 triệu đồng.

Thời gian tính hưởng chế độ được quy định như sau: Đối tượng là quân nhân, Công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu hưởng lương như quân nhân là tổng thời gian công tác thực tế trong Quân đội, Công an, cơ yếu (trừ thời gian đi lao động hợp tác quốc tế). Các đối tượng còn lại là thời gian trực tiếp tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu trong khoảng thời gian và địa bàn quy định tại Khoản 2, 3 và 4 Điều 2 Nghị định này; Trường hợp, một người có thời gian tham gia kháng chiến, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế và tham gia dân công hỏa tuyến thuộc các nhóm đối tượng khác nhau quy định tại  Khoản 2, 3 và 4 Điều 2 Nghị định này hoặc có thời gian công tác gián đoạn thì được cộng dồn. Trừ thời gian đã được tính hưởng chế độ trợ cấp một lần hoặc hằng tháng theo quy định tại các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và Nghị định của Chính phủ. Thời gian tính hưởng chế độ hỗ trợ một lần nếu có tháng lẻ thì đủ 06 tháng trở lên được tính bằng một năm, dưới 06 tháng được tính bằng 1/2 năm.

Nội dung cụ thể xem chi tiết tại: https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Tai-chinh-nha-nuoc/Nghi-dinh-102-2018-ND-CP-che-do-ho-tro-va-che-do-dai-ngo-khac-voi-nguoi-co-cong-cach-mang-388308.aspx

Duy Hòa