Vướng mắc khi áp dụng quy định mới về khởi tố vụ án theo yêu cầu bị hại

19

 

Khởi tố vụ án hình sự là quyền và trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, không phụ thuộc vào ý muốn cá nhân và không ai có thể can thiệp. Tuy nhiên, xuất phát từ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại, pháp luật quy định cho phép người bị hại lựa chọn quyền yêu cầu khởi tố hoặc không khởi tố vụ án.

image1.jpg

Khởi tố vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Ảnh: congankontum.gov.vn)

Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu của quá trình TTHS. Trong đó, các cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự. Bộ luật TTHS quy định một số tội phạm chỉ được khởi tố theo yêu cầu của bị hại, có nghĩa là cơ quan có thẩm quyền phải nhận được yêu cầu của bị hại mới được khởi tố vụ án, nếu không việc khởi tố này là trái pháp luật. Khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại nhằm tạo điều kiện cho người phạm tội có cơ hội để khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra, hạn chế việc gây thêm những tổn thất, mất mát về mặt tinh thần, danh dự không cần thiết đối với người bị hại.

Điều 105, Bộ luật TTHS 2003 quy định về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại như sau: “1. Những vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 các điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của Bộ luật hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất. 2. Trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ. Trong trường hợp có căn cứ để xác định người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án. Người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức”.

1_371290.jpg

Phiên tòa xét xử vụ án Lê Thị Tân lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Ảnh: baokontum.com)

Như vậy, Bộ luật TTHS 2003 quy định tại khoản 1 các điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 lần lượt là các tội: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác, Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính, Tội hiếp dâm, Tội cưỡng dâm, Tội làm nhục người khác, Tội vu khống, Tội xâm phạm quyền tác giả và Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp chỉ được khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại, nếu người bị hại không có yêu cầu thì không được khởi tố vụ án hình sự.

Trên cơ sở Bộ luật TTHS 2003 và thực tiễn công tác áp dụng quy định của pháp luật về yêu cầu khởi tố vụ án của người bị hại, Bộ luật TTHS 2015 đã sửa đổi, bỏ sung quy định khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại theo hướng Điều 155 Bộ luật TTHS 2015: Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại theo hướng “mở” hơn và thu hẹp phạm vi các loại tội phạm khởi tố theo yêu cầu của người bị hại. Cụ thể theo quy định Bộ luật TTHS 2015, chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các Điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 lần lượt là các tội: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính, Tội hiếp dâm, Tội cưỡng dâm, Tội làm nhục người khác, Tội vu khống và Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp.

Ngoài ra, tại khoản 2 Điều 155 cũng quy định: “Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án”. Đồng thời, khoản 3 Điều 62 quy định: “Trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì bị hại hoặc người đại diện của họ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa”.

Điểm mới của BLTTHS năm 2015 so với BLTTHS năm 2003 là ở Khoản 2 Điều 155 quy định về trường hợp người đã yêu cầu khởi tố “rút yêu cầu” thì vụ án phải được đình chỉTrong khi đó BLTTHS 2003 quy định trường hợp người đã yêu cầu khởi tố “rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm” thì vụ án phải được đình chỉ... Như vậy, BLTTHS 2015 chỉ quy định một cách chung chung và không xác định rõ thời điểm rút yêu cầu mà chỉ quy định người đã yêu cầu khởi tố “rút yêu cầu” thì vụ án phải được đình chỉ. Quy định này đã khắc phục những khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình áp dụng vào thực tiễn. Quy định này đã mở rộng cho người đã yêu cầu khởi tố có quyền rút yêu cầu khởi tố ở giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Trong bốn giai đoạn này, nếu người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố thì vụ án phải được đình chỉ.

Tuy nhiên, thực tế áp dụng quy định này còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Cụ thể như người đã yêu cầu khởi tố có quyền rút yêu cầu khởi tố ở thời điểm nào trong giai đoạn xét xử. Trong trường hợp vụ án có nhiều bị hại, nếu họ tham gia tố tụng với tư cách độc lập (không có đại diện) thì việc một bị hại rút yêu cầu khởi tố vụ án thì chưa thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 155 mà phải tất cả bị hại đều rút yêu cầu khởi tố vụ án thì mới thuộc trường hợp đình chỉ. Việc rút yêu cầu khởi tố vụ án của một bị hại trong số nhiều bị hại có thể coi là tình tiết giảm nhẹ nhưng phải nói rõ trong bản án. Tuy nhiên, vấn đề này theo chúng tôi cũng cần phải có hướng dẫn để áp dụng thống nhất.


Duy Hòa